AlgoLabAlgoLabAlgoLabAlgoLabAlgoLabAlgoLab

Báo cáo KTXH hằng tháng (GSO)

Toàn văn báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê — gồm các số liệu chỉ có trong bản thuyết minh (FDI thực hiện/giải ngân, bình luận CPI…).

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Năm và 5 tháng đầu năm 2026 Ngày đăng: 03/06/2026 Kỳ tham chiếu: 5/2026Lần công bố sắp tới: 03/07/2026

Tải .docx

BỘ TÀI CHÍNH

CỤC THỐNG KÊ

________________

Số: 216/BC-CTK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________________________________

Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm 2026

BÁO CÁO

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG NĂM VÀ 5 THÁNG ĐẦU NĂM 2026

21361402603500

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông nghiệp tháng Năm tập trung vào thu hoạch lúa, hoa màu vụ đông xuân trên cả nước và xuống giống lúa hè thu tại các địa phương phía Nam. Chăn nuôi lợn và gia cầm phát triển theo hướng chăn nuôi trang trại và an toàn sinh học. Sản lượng gỗ khai thác tăng do giá gỗ tăng; diện tích rừng trồng mới giảm do quỹ đất trồng lại rừng sau bão Yagi năm 2024 không còn nhiều, công tác phòng cháy và bảo vệ rừng được đảm bảo. Nuôi trồng thủy sản và sản lượng tôm tăng khá; khai thác biển khá thuận lợi và đang vào vụ khai thác cá Nam.

a) Nông nghiệp

Lúa đông xuân

Vụ lúa đông xuân năm 2026 cả nước gieo cấy được 2.932,2 nghìn ha, giảm 37,5 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước do các địa phương thực hiện chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng, vật nuôi khác có giá trị kinh tế cao hơn, hoặc chuyển sang đất phi nông nghiệp (xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp, đất thương mại, dịch vụ,…) . Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1.036,3 nghìn ha, giảm 14,1 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước; các địa phương phía Nam gieo cấy 1.895,9 nghìn ha, giảm 23,5 nghìn ha, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.251,0 nghìn ha, giảm 14,4 nghìn ha.

Tính đến ngày 20/5/2026, cả nước thu hoạch được 2.218,6 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 75,7% diện tích gieo cấy và tương đương cùng kỳ năm 2025. Trong đó, các địa phương phía Bắc thu hoạch được 362,0 nghìn ha, chiếm 34,9% diện tích gieo cấy và bằng 108,1% cùng kỳ năm trước do đẩy nhanh tiến độ thu hoạch, tránh tác động của thời tiết, đặc biệt là nguy cơ mưa lớn, giông lốc và ảnh hưởng của sâu bệnh phát sinh trong điều kiện nắng mưa xen kẽ. Các địa phương phía Nam thu hoạch được 1.856,6 nghìn ha, chiếm 97,9% và bằng 98,6%. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long cơ bản kết thúc thu hoạch với 1.247,3 nghìn ha, giảm 18,1 nghìn ha so với vụ đông xuân trước; năng suất thu hoạch ước đạt 74,0 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so vụ đông xuân năm trước, sản lượng thu hoạch ước đạt 9,23 triệu tấn, tăng 11,7 nghìn tấn.

Lúa hè thu

Cùng với thu hoạch lúa đông xuân, đến ngày 20/5/2026, các địa phương miền Nam gieo sạ được 826,0 nghìn ha lúa hè thu, bằng 78,7% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo sạ được 678,0 nghìn ha, bằng 75,0%. Tiến độ gieo sạ lúa hè thu thấp hơn cùng kỳ năm trước do vụ đông xuân thu hoạch muộn ở miền Nam. Bên cạnh đó, tình trạng nắng nóng kéo dài ở một số địa phương, cùng với giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật ở mức cao đã tác động đến tâm lý và đầu tư của người trồng lúa. Một số địa phương có tiến độ xuống giống vụ hè thu thấp: Đồng Tháp đạt 156,2 nghìn ha, bằng 76,6% cùng kỳ năm trước; An Giang đạt 334,0 nghìn ha, bằng 76,2%; Vĩnh Long đạt 28,0 nghìn ha, bằng 80,1%.

Để ứng phó với điều kiện thời tiết bất lợi, hạn hán trong mùa nắng nóng, các địa phương khuyến cáo người dân thực hiện gieo sạ né rầy; áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm; sử dụng phân bón theo hướng giảm lượng đạm, tăng phân lân, kali và phân chuồng, phân vi sinh nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng và phát triển của cây lúa.

Cây hàng năm

Cùng với gieo cấy lúa, các địa phương trên cả nước tiến hành gieo trồng cây hoa màu. Trong đó, diện tích một số cây như ngô, lạc, rau các loại giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao.

Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm

(Tính đến 20/5/2026)

Chăn nuôi

Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm đàn tại nhiều địa phương do hiệu quả kinh tế thấp, diện tích chăn thả tự nhiên và nguồn thức ăn thô xanh bị thu hẹp, giá thức ăn chăn nuôi ở mức cao. Một số địa phương có đàn trâu giảm mạnh: Phú Thọ giảm 8,6% so với cùng thời điểm năm trước; Cao Bằng giảm 7,8%; Sơn La giảm 3,6%; Tuyên Quang giảm 3,0%; Lào Cai giảm 2,1%. Đàn bò giảm ở một số địa phương: Phú Thọ giảm 4,9% so với cùng thời điểm năm trước; Sơn La và Quảng Trị cùng giảm 2,4%.

Chăn nuôi lợn tiếp tục phát triển, dịch bệnh được kiểm soát, giá thịt lợn hơi trong tháng duy trì ở mức có lợi tạo động lực cho người chăn nuôi mở rộng quy mô và tái đàn. Các địa phương có trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi lớn, chủ động được con giống, quy trình an toàn sinh học và có tổng đàn lợn tăng khá như: Gia Lai và An Giang cùng tăng 7,5% so với cùng thời điểm năm trước; Lâm Đồng tăng 6,9%; Thái Nguyên tăng 6,0%; Lạng Sơn tăng 4,0%; Phú Thọ tăng 3,7%; Thanh Hóa tăng 3,6%.

Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt nhờ chu kỳ nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh, mức đầu tư ban đầu thấp hơn so với nuôi gia súc, phù hợp với điều kiện của nhiều hộ chăn nuôi. Các mô hình chăn nuôi gà theo hướng trang trại, an toàn sinh học, liên kết tiêu thụ với bếp ăn tập thể, trường học, nhà hàng, siêu thị và doanh nghiệp chế biến tiếp tục được duy trì, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Nhu cầu tiêu dùng ổn định, công tác tiêm phòng được quan tâm, nhiều địa phương tiếp tục tăng đàn gia cầm: Nghệ An tăng 7,1% so với cùng thời điểm năm trước; Thanh Hóa tăng 5,6%; Phú Thọ tăng 3,8%; Bắc Ninh tăng 3,7%; Đồng Nai tăng 3,4%; Tây Ninh tăng 3,2%; Ninh Bình tăng 2,1%; Hà Nội tăng 1,6%. Tuy nhiên, số lượng gà đẻ trứng đang tăng cao, giá trứng gà tháng Năm giảm 0,6% so với tháng Tư. Cần đẩy mạnh liên kết theo chuỗi, tăng cường chế biến, xuất khẩu và tiêu thụ trong nước hỗ trợ người sản xuất khi nguồn cung có dấu hiệu vượt cầu.

Hình 2. Tốc độ tăng, giảm số lượng gia súc, gia cầmcuối tháng 5/2026 so với cùng thời điểm năm trước

Tính đến ngày 27/5/2026, cả nước không còn dịch tai xanh; dịch cúm gia cầm còn ở Ninh Bình, Điện Biên, Thanh Hóa, Khánh Hòa, An Giang; dịch viêm da nổi cục còn ở Cao Bằng, Quảng Ngãi; dịch lở mồm long móng còn ở Tuyên Quang và dịch tả lợn châu Phi còn ở 16 địa phương chưa qua 21 ngày.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung của cả nước trong tháng Năm ước đạt 32,9 nghìn ha, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm trước do các địa phương đẩy mạnh trồng lại rừng bị thiệt hại sau bão Yagi trong năm 2025, nên diện tích trồng mới năm 2026 giảm. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 8,2 triệu cây, tăng 6,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2.669,3 nghìn m3, tăng 5,8% do giá gỗ tăng, nhiều địa phương tăng cường khai thác rừng trồng đến kỳ thu hoạch. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 112,1 nghìn ha, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 36,8 triệu cây, tăng 1,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 8.689,4 nghìn m3, tăng 2,9%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng Năm là 108,6 ha, giảm 11,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó rừng bị chặt, phá là 78,5 ha, tăng 17,1%; diện tích rừng bị cháy là 30,1 ha, giảm 45,6%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, diện tích rừng bị thiệt hại là 296,2 ha, giảm 50,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị chặt, phá là 252,3 ha, giảm 45,9%; diện tích rừng bị cháy là 43,9 ha, giảm 68,1%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Năm ước đạt 913,2 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 636,4 nghìn tấn, tăng 3,1%; tôm đạt 140,0 nghìn tấn, tăng 6,5%; thủy sản khác đạt 136,8 nghìn tấn, tăng 7,8%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 543,9 nghìn tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 350,6 nghìn tấn, tăng 5,6%; tôm đạt 126,6 nghìn tấn, tăng 6,9%.

Sản lượng thu hoạch cá tra trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước do giá cá tra nguyên liệu ổn định, các thị trường lớn như Trung Quốc, EU, ASEAN và Trung Đông khởi sắc khuyến khích người dân tăng thả nuôi. Sản lượng cá tra trong tháng ước đạt 153,6 nghìn tấn tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng tôm trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước, giá tôm nguyên liệu và thị trường tiêu thụ ổn định, nguồn cung tôm nguyên liệu đáp ứng nhu cầu các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng Năm ước đạt 88,0 nghìn tấn, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 28,1 nghìn tấn, tăng 5,2%.

Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng ước đạt 369,3 nghìn tấn, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 285,8 nghìn tấn, tăng 0,1%; tôm đạt 13,4 nghìn tấn, tăng 2,3%; thủy sản khác đạt 70,1 nghìn tấn, tăng 4,6% do thời tiết thuận lợi, khai thác biển bước vào chính vụ cá Nam, cùng với đó nguồn lợi hải sản thuận lợi giúp ngư dân đẩy mạnh khai thác, đầu tư nâng công suất tàu và ngư cụ để tăng hiệu quả đánh bắt xa bờ. Sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 354,2 nghìn tấn, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 274,4 nghìn tấn, tăng 0,2%; tôm đạt 12,5 nghìn tấn, tăng 2,5%; thủy sản khác đạt 67,3 nghìn tấn, tăng 4,8%.

Hình 3. Sản lượng thủy sản 5 tháng đầu năm 2026so với cùng kỳ năm 2025

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản ước 3.960,1 nghìn tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 2.852,4 nghìn tấn, tăng 2,7%; tôm đạt 509,7 nghìn tấn, tăng 6,8%; thủy sản khác đạt 598,0 nghìn tấn, tăng 4,4%.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Năm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tháng ước tính tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của năm tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước trong bốn năm gần đây.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Năm ước tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,5%; ngành khai khoáng tăng 6,0%.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,8%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,5% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,9%), đóng góp 7,4 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành khai khoáng tăng 5,5% (cùng kỳ năm 2025 giảm 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,2%), đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,8%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm tháng đầu năm 2026 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 20,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 18,0%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 16,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%; sản xuất đồ uống tăng 15,1%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 11,6%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 10,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 9,6%; dệt tăng 9,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 7,5%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm so với cùng kỳ năm trước: Khai thác than cứng và than non giảm 4,6%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 1,0%.

Biểu 1. Tốc độ tăng, giảm chỉ số IIP năm tháng đầu năm các năm 2022-2026so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm (%)

2022

2023

2024

2025

2026

Khai thác than cứng và than non

11,9

-3,0

-0,2

3,4

-4,6

Sản xuất chế biến thực phẩm

6,4

3,5

5,7

10,3

11,2

Sản xuất đồ uống

9,8

5,4

0,2

0,6

15,1

Dệt

4,6

-3,8

12,9

9,0

9,3

Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy

7,1

-8,1

9,3

8,8

10,7

Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất

3,5

3,5

20,4

6,4

16,9

Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic

-12,3

6,8

27,9

16,4

10,9

Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác

6,3

-5,0

-3,2

11,6

16,2

Sản xuất kim loại

3,1

-6,1

12,7

9,6

20,2

Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị)

10,7

2,6

12,0

11,1

9,6

Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học

11,0

-5,3

6,4

9,8

7,5

Sản xuất xe có động cơ

1,8

-9,5

4,4

30,9

18,0

Sản xuất phương tiện vận tải khác

2,6

-5,6

-5,4

15,9

-1,0

Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế

4,7

-3,7

19,9

10,8

11,6

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.

Hình 4. Tốc độ tăng, giảm IIP năm tháng đầu năm 2026so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%)

10 địa phương có chỉ số IIPtăng cao nhất

10 địa phương có chỉ số IIPtăng thấp nhất

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong năm tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Xe máy tăng 36,0%; ô tô tăng 26,7%; thủy hải sản chế biến tăng 21,6%; thép cán tăng 21,5%; đường kính và bia cùng tăng 14,4%; sơn hóa học tăng 14,3%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Phân hỗn hợp NPK giảm 6,8%; bột ngọt giảm 6,0%; giày, dép da giảm 5,7%; than (than sạch) giảm 4,7%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/05/2026 tăng 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,4% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,6% và tăng 2,6%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,5% và tăng 3,4%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,2% và tăng 3,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 3,0%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và tăng 2,8%.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Năm, cả nước có hơn 17,0 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký hơn 280,9 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 75,9 nghìn lao động, giảm 16,5% về số doanh nghiệp, tăng 13,8% về vốn đăng ký và giảm 16,6% về số lao động so với tháng Tư. So với cùng kỳ năm trước, tăng 12,5% về số doanh nghiệp, tăng 79,3% về số vốn đăng ký và giảm 22,7% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Năm đạt 16,5 tỷ đồng, tăng 36,4% so với tháng trước và tăng 59,3% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, cả nước còn có 9,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 3,9% so với tháng trước và tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Trong tháng Năm, có 6.746 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 23,9% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2025; 8.082 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 50,0% và tăng 23,7%; có 3.831 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 10,3% và tăng 100,7%.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 94,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 1.066,3 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký 432,8 nghìn lao động, tăng 42,1% về số doanh nghiệp, tăng 64,8% về vốn đăng ký và giảm 4,7% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm tháng đầu năm 2026 đạt 11,2 tỷ đồng, tăng 16,0% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước có gần 47,8 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm tháng đầu năm 2026 lên hơn 142,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 28,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, năm tháng đầu năm 2026 có 978 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 56,0% so với cùng kỳ năm trước; gần 23,3 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 52,7%; gần 70,6 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 38,7%.

Hình 5. Tình hình đăng ký doanh nghiệp năm tháng đầu năm 2026so với cùng kỳ năm 2025

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 78,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước; hơn 31,4 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 14,2%; hơn 19,0 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 99,1%. Bình quân một tháng có 25,9 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Biểu 2. Doanh nghiệp thành lập mới và giải thể năm tháng đầu năm 2026 phân theo một số lĩnh vực hoạt động

Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp)

Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

Thành lập mới

Giải thể

Thành lập mới

Giải thể

Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy

39.730

7.189

59,3

104,7

Công nghiệp chế biến chế tạo

12.814

2.042

50,1

101,2

Xây dựng

9.107

1.352

53,2

98,5

Kinh doanh bất động sản

2.638

1.149

27,8

119,3

Vận tải kho bãi

6.088

708

69,8

93,4

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

4.287

912

95,0

80,6

Sản xuất phân phối, điện, nước, gas

918

176

78,3

43,1

4. Đầu tư

Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Năm được các Bộ, ngành và địa phương tập trung đẩy mạnh thực hiện, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế cả năm 2026. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 24,0% kế hoạch, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 9,75 tỷ USD tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Năm ước đạt gần 65 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt gần 10,2 nghìn tỷ đồng, tăng 17,4%; vốn địa phương quản lý đạt 54,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,9%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 254,1 nghìn tỷ đồng, bằng 24,0% kế hoạch năm và tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 bằng 22,5% và tăng 21,1%). Cụ thể:

- Vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý ước đạt 35,9 nghìn tỷ đồng, bằng 13,6% kế hoạch năm và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Bộ Xây dựng đạt 16,5 nghìn tỷ đồng, giảm 18,7%; Bộ Nông nghiệp và Môi trường đạt 1,9 nghìn tỷ đồng, giảm 59,9%; Bộ Y tế đạt 401,6 tỷ đồng, giảm 52,5%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đạt 244,1 tỷ đồng, tăng 9,1%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 211,4 tỷ đồng, giảm 54,6%; Bộ Công thương đạt 28,2 tỷ đồng, giảm 63,6%; Bộ Khoa học và Công Nghệ đạt 13,3 tỷ đồng, giảm 86,2%.

- Vốn đầu tư thực hiện do địa phương quản lý ước đạt 218,2 nghìn tỷ đồng, bằng 27,5% kế hoạch năm và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 170,4 nghìn tỷ đồng, bằng 26,9% và tăng 9,0% so với cùng kỳ năm 2025;

Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 47,8 nghìn tỷ đồng, bằng 29,6% và tăng 22,0%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước năm tháng đầu năm 2026 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:

Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2026 của một số địa phương

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/5/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 24,81 tỷ USD, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 7. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam

năm tháng đầu năm giai đoạn 2022-2026 (Tỷ USD)

- Vốn đăng ký cấp mới có 1.576 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 14,84 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và gấp 2,1 lần về số vốn đăng ký. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 9,64 tỷ USD, chiếm 65,0% tổng vốn đăng ký cấp mới; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 2,45 tỷ USD, chiếm 16,5%; các ngành còn lại đạt 2,75 tỷ USD, chiếm 18,5%.

Trong số 58 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong năm tháng đầu năm 2026, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 6,8 tỷ USD, chiếm 45,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 4,22 tỷ USD, chiếm 28,4%; Trung Quốc 1,79 tỷ USD, chiếm 12,1%; Nhật Bản 712,6 triệu USD, chiếm 4,8%; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 397,3 triệu USD, chiếm 2,7%; Hà Lan 380,3 triệu USD, chiếm 2,6%.

- Vốn đăng ký điều chỉnh có 415 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 5,78 tỷ USD, giảm 32,1% so với cùng kỳ năm trước.

Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14,52 tỷ USD, chiếm 70,4% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 2,45 tỷ USD, chiếm 11,9%; các ngành còn lại đạt 3,65 tỷ USD, chiếm 17,7%.

- Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.164 lượt với tổng giá trị góp vốn 4,19 tỷ USD, tăng 46,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 336 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 565,3 triệu USD và 828 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 3,62 tỷ USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 1,9 tỷ USD, chiếm 45,4% giá trị góp vốn; hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 1,16 tỷ USD, chiếm 27,7%; ngành còn lại 1,13 tỷ USD, chiếm 26,9%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 9,75 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của năm tháng đầu năm trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 8,06 tỷ USD, chiếm 82,7% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 716,5 triệu USD, chiếm 7,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 356,6 triệu USD, chiếm 3,7%.

Hình 8. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện

năm tháng đầu năm giai đoạn 2022-2026 (Tỷ USD)

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong năm tháng đầu năm 2026 có 85 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 760,8 triệu USD, gấp 2,8 lần so với cùng kỳ năm trước; có 10 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 33,8 triệu USD, giảm 18,7%.

Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 794,6 triệu USD, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Xây dựng đạt 178,8 triệu USD, chiếm 22,5% tổng vốn đầu tư; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 163,8 triệu USD, chiếm 20,6%; vận tải kho bãi đạt 150,5 triệu USD, chiếm 18,9%.

Trong năm tháng đầu năm 2026, có 33 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 199,5 triệu USD, chiếm 25,1% tổng vốn đầu tư; Cư-rơ-gư-xtan 149,9 triệu USD, chiếm 18,9%; Anh 82,8 triệu USD, chiếm 10,4%; Ca-dắc-xtan 36,0 triệu USD, chiếm 4,5%; Căm-pu-chia 32,9 triệu USD, chiếm 4,1%; Hoa Kỳ 31,9 triệu USD, chiếm 4,0%; quần đảo Virgin thuộc Anh 30,1 triệu USD, chiếm 3,8%.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước năm tháng đầu năm 2026 ước tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2025, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

Hình 9. Thu, chi ngân sách Nhà nước năm tháng đầu năm 2026

Thu ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Năm ước đạt gần 215,0 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước năm tháng đầu năm 2026 đạt 1.339,7 nghìn tỷ đồng, bằng 53,0% dự toán năm và tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:

- Thu nội địa tháng Năm ước đạt 173,8 nghìn tỷ đồng. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.165,9 nghìn tỷ đồng, bằng 53,0% dự toán năm và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước.

- Thu từ dầu thô tháng Năm ước đạt 5,6 nghìn tỷ đồng; lũy kế năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 23,4 nghìn tỷ đồng, bằng 54,5% dự toán năm và tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước.

- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tháng Năm ước đạt gần 35,4 nghìn tỷ đồng; lũy kế năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 149,6 nghìn tỷ đồng, bằng 53,8% dự toán năm và tăng 14,0% so với cùng kỳ năm trước do hoạt động xuất, nhập khẩu trong năm tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực, các mặt hàng nhập khẩu chính tăng so với cùng kỳ năm trước đã tác động làm tăng thu ngân sách Nhà nước.

Chi ngân sách Nhà nước

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Năm ước đạt 184,8 nghìn tỷ đồng. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 843,7 nghìn tỷ đồng, bằng 26,7% dự toán năm và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi thường xuyên năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 586,0 nghìn tỷ đồng, bằng 32,4% dự toán năm và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước; chi đầu tư phát triển đạt 206,2 nghìn tỷ đồng, bằng 18,4% và tăng 11,8%; chi trả nợ lãi 50,4 nghìn tỷ đồng, bằng 41,6% và tăng 7,8%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng Năm tiếp tục tăng trưởng tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 13,3% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 12,2%, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và du lịch khởi sắc hơn.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Năm năm 2026 ước đạt 647,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng tiếp tục duy trì xu hướng tăng: Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước nhờ thời tiết thuận lợi, tiến độ các công trình được đẩy nhanh và giá vật liệu tăng vào mùa cao điểm; hàng may mặc tăng nhẹ 0,1% và tăng 7,3% do nhu cầu mua sắm trang phục hè tăng; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 0,9% và tăng 5,9% do nhu cầu mua sắm văn phòng phẩm, sách tham khảo phục vụ mùa thi và quà tặng, phần thưởng tổng kết năm học tăng cao. Một số nhóm hàng thiết yếu có xu hướng chững lại so với các tháng trước: Nhóm hàng xăng, dầu các loại giảm 1,4% so với tháng trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước do mặt bằng giá mặc dù đã giảm so với tháng trước nhưng vẫn cao hơn cùng kỳ năm trước; hàng lương thực, thực phẩm giảm 0,9% và tăng 7,7% phản ánh sự ổn định của thị trường sau các kỳ nghỉ lễ và nguồn cung nông sản, thực phẩm vào vụ thu hoạch làm giảm áp lực tăng giá; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm nhẹ 0,1% và tăng 7,0% do sức mua chững lại sau các đợt kích cầu dịp lễ, tết và làn sóng mua sắm thiết bị điện lạnh đầu mùa đã qua. Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành tăng 5,4% và tăng 15,4%; các nhóm hàng dịch vụ khác tăng 1,9% và tăng 10,8%.

Biểu 3. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngtheo giá hiện hành năm tháng đầu năm 2026

Nghìn tỷ đồng

Ước tính

tháng Năm

năm 2026

Ước tính

5 tháng đầu

năm 2026

Tốc độ tăng so với

cùng kỳ năm trước (%)

Tháng Năm

năm 2026

5 tháng đầu năm 2026

Tổng số

647,1

3.185,0

11,8

11,2

Bán lẻ hàng hóa

486,5

2.418,1

11,3

11,1

Dịch vụ lưu trú, ăn uống

84,7

400,4

15,4

13,3

Du lịch lữ hành

8,9

40,6

15,4

12,2

Dịch vụ khác

67,0

325,9

10,8

9,1

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 3.185,0 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,1% (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,2%).

Hình 10. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngtheo giá hiện hành năm tháng đầu năm giai đoạn 2022-2026

Doanh thu bán lẻ hàng hóa năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.418,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,9% tổng mức và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu nhóm hàng xăng dầu tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước; hàng may mặc tăng 10,2%; hàng lương thực, thực phẩm tăng 9,6%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 7,5%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 5,6% và nhóm hàng hóa khác tăng 17,6%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa năm tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Ninh tăng 12,9%; Đà Nẵng tăng 12,7%; Đồng Nai tăng 11,4%; Cần Thơ tăng 11,2%; Hà Nội tăng 11,1%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 10,9%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 400,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,6% tổng mức và tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu năm tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: An Giang tăng 24,4%; Ninh Bình tăng 19,2%; Đà Nẵng tăng 18,9%; Huế tăng 18,6%; Quảng Ninh tăng 18,5%; Hải Phòng tăng 14,6%; Cần Thơ tăng 13,1%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 10,3%; Hà Nội tăng 9,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 40,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,3% tổng mức và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước nhờ sự kết hợp giữa chính sách thị thực tối ưu, các chiến dịch quảng bá, kích cầu hiệu quả và chất lượng dịch vụ du lịch ngày càng cao đã thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Doanh thu năm tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Khánh Hòa tăng 33,8%; Quảng Ninh tăng 25,4%; Quảng Ngãi tăng 23,3%; Huế tăng 18,7%; Hải Phòng tăng 15,6%; Hà Nội tăng 12,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,2%.

Doanh thu dịch vụ khác năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 325,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,2% tổng mức và tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu năm tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Huế tăng 28,2%; Quảng Ninh tăng 25,2%; Bắc Ninh tăng 19,3%; Ninh Bình tăng 17,3%; Hà Nội tăng 9,1%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,7%.

b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Trong tháng Năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 99,07 tỷ USD, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 445,12 tỷ USD, tăng 25,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,5%; nhập khẩu tăng 30,8%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 13,80 tỷ USD.

Hình 11. Xuất, nhập khẩu hàng hóa năm tháng đầu năm 2026

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Tư sơ bộ đạt 45,99 tỷ USD.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Năm đạt 46,93 tỷ USD, tăng 2,1% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,05 tỷ USD, giảm 4,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 37,88 tỷ USD, tăng 3,6%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Năm tăng 18,0%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 3,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 22,0%.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 215,66 tỷ USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 43,5 tỷ USD, tăng 2,5%, chiếm 20,2% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 172,16 tỷ USD, tăng 24,7%, chiếm 79,8%.

Trong năm tháng đầu năm 2026 có 26 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 90,7% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 69,3%).

Biểu 4. Giá trị một số mặt hàng xuất khẩu năm tháng đầu năm 2026

Giá trị

(Triệu USD)

Tốc độ tăng so với

cùng kỳ năm trước (%)

Các mặt hàng đạt giá trị trên 5 tỷ USD

Điện tử, máy tính và linh kiện

56.187

46,2

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

26.971

22,1

Điện thoại các loại và linh kiện

26.370

17,7

Hàng dệt, may

15.130

0,4

Giày dép

9.780

0,2

Phương tiện vận tải và phụ tùng

7.987

17,1

Gỗ và sản phẩm gỗ

7.020

2,9

20447076200Hình 12. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu

năm tháng đầu năm 2026

00Hình 12. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu

năm tháng đầu năm 2026

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm tháng đầu năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 193,71 tỷ USD, chiếm 89,8%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 15,79 tỷ USD, chiếm 7,3%; nhóm hàng thủy sản đạt 4,67 tỷ USD, chiếm 2,2%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 1,49 tỷ USD, chiếm 0,7%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Tư sơ bộ đạt 49,98 tỷ USD.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Năm đạt 52,14 tỷ USD, tăng 4,3% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 13,17 tỷ USD, giảm 10,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 38,97 tỷ USD, tăng 10,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Năm tăng 33,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 22,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 38,2%.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 229,46 tỷ USD, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 64,26 tỷ USD, tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 165,2 tỷ USD, tăng 34,3%.

Trong năm tháng đầu năm 2026 có 36 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 91,2% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 6 mặt hàng nhập khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 60,7%).

Biểu 5. Giá trị một số mặt hàng nhập khẩu năm tháng đầu năm 2026

Giá trị

(Triệu USD)

Tốc độ tăng, giảm so với

cùng kỳ năm trước (%)

Các mặt hàng đạt giá trị trên 5 tỷ USD

Điện tử, máy tính và linh kiện

88.219

57,1

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

27.806

21,6

Vải

6289

-0,5

Kim loại thường khác

5973

32,0

Chất dẻo

5643

9,0

Ô tô

5443

36,0

8445555880Hình 13. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu

năm tháng đầu năm 2026

00Hình 13. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu

năm tháng đầu năm 2026

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu năm tháng đầu năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 215,99 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 55,7%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 38,4%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 13,47 tỷ USD, chiếm 5,9%.

Hình 14. Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếunăm tháng đầu năm 2026

984253619500 Xuất khẩu hàng hóa

4146553619500 Nhập khẩu hàng hóa

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa năm tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 69,6 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 92,6 tỷ USD. Trong năm tháng đầu năm 2026, xuất siêu sang Hoa Kỳ đạt 60,4 tỷ USD tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 18,1 tỷ USD, tăng 11,3%; xuất siêu sang Nhật Bản 0,8 tỷ USD, giảm 13,2%; nhập siêu từ Trung Quốc 62,5 tỷ USD, tăng 36,4%; nhập siêu từ Hàn Quốc 21,1 tỷ USD, tăng 72,5%; nhập siêu từ ASEAN 8,6 tỷ USD, tăng 33,1%.

Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Tư nhập siêu 3,99 tỷ USD; bốn tháng nhập siêu 8,59 tỷ USD; tháng Năm nhập siêu 5,21 tỷ USD. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 13,80 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 5,1 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,76 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 6,96 tỷ USD.

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Năm tăng 0,29% so với tháng trước do giá điện, nước sinh hoạt tăng cùng với nhu cầu sử dụng cao trong thời tiết nắng nóng, giá vật liệu xây dựng, nhà ở thuê, giá xăng tăng. CPI tháng Năm tăng 3,61% so với tháng 12/2025 và tăng 5,60% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,04%.

Hình 15. Tốc độ tăng CPI tháng 5/2026 so với tháng trước

Trong mức tăng 0,29% của CPI tháng Năm so với tháng trước, có 10 nhóm hàng tăng giá, riêng chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm.

(1) Mười nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

- Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,96% (tác động làm tăng CPI chung 0,22 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá thuê nhà tăng 0,71%, trong đó, giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,69%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,81%; giá điện sinh hoạt tăng 2,38%; nước sinh hoạt tăng 1,41%. Ở chiều ngược lại, giá gas giảm 1,50% theo giá thế giới, tác động làm giảm CPI chung 0,02 điểm phần trăm.

- Nhóm giao thông tăng 0,83% (tác động làm CPI chung tăng 0,08 điểm phần trăm), chủ yếu do: Chỉ số giá xăng tăng 2,12%; chỉ số giá nhóm phụ tùng tăng 0,32%; chỉ số giá nhóm bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,59%; phí học bằng lái xe tăng 0,82%; phí cầu đường tăng 0,68%; dịch vụ thuê ô tô, xe máy tự lái tăng 0,46%; dịch vụ trông giữ xe tăng 0,07%. Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng và dịch vụ giao thông có giá giảm: Chỉ số giá dầu diezen giảm 16,42%; chỉ số giá dịch vụ giao thông công cộng giảm 1,47%.

- Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,48%, chủ yếu tăng ở những dịch vụ sau: Giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,19% (du lịch trong nước tăng 1,35%; du lịch ngoài nước tăng 0,27%) do chi phí tổ chức tour tăng, đặc biệt là chi phí di chuyển, lưu trú và dịch vụ du lịch; chụp, in tráng ảnh tăng 1,0%; khách sạn, nhà khách tăng 0,66%; dịch vụ liên quan đến vật nuôi tăng 0,60%; dịch vụ thể thao tăng 0,23%.

- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,21% do chi phí nhập khẩu, sản xuất và phân phối tăng. Trong đó, chỉ số giá nước quả ép tăng 0,44% so với tháng trước; nước tăng lực đóng chai tăng 0,09%; thuốc lá tăng 0,47%; rượu bia các loại tăng 0,18%.

- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17% do chi phí nguyên vật liệu, nhân công và vận chuyển tăng. Trong đó, một số mặt hàng có mức giá tăng: Giá đèn điện thắp sáng tăng 0,51%; máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,50%; quạt điện tăng 0,35%; sửa chữa thiết bị gia đình tăng 0,31%; bếp gas tăng 0,30%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,27%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,23%; lò vi sóng, lò nướng, bếp từ tăng 0,22%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,17%; tủ lạnh tăng 0,18%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,16%; đồng hồ treo tường, để bàn và gương tăng 0,14%. Ở chiều ngược lại, giá bình nước nóng nhà tắm giảm 0,46%; máy xay sinh tố, ép hoa quả giảm 0,45%; máy đánh trứng giảm 0,24% do một số hãng áp dụng chương trình khuyến mại.

- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14%, chủ yếu do chỉ số giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,39%; vật dụng và dịch vụ hiếu hỉ tăng 0,19%. Ở chiều ngược lại, nhóm đồ trang sức giảm 2,58% theo giá vàng trong nước.

- Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13% do chi phí nguyên vật liệu, vận chuyển và nhân công tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ giày dép tăng 0,62%; dịch vụ may mặc tăng 0,33%; vải các loại tăng 0,28%; giày dép tăng 0,30%; mũ nón tăng 0,17%; may mặc khác và quần áo may sẵn cùng tăng 0,06%.

- Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,10% do chỉ số giá nhóm thuốc các loại tăng 0,32%, chủ yếu do thời tiết nắng nóng, nhu cầu sử dụng thuốc tăng. Cụ thể, giá nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt tăng 0,64%; thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,42%; hoóc môn và thuốc tác động vào hệ nội tiết tăng 0,39%; thuốc chống dị ứng tăng 0,38%; vitamin và khoáng chất tăng 0,34%; thuốc tim mạch tăng 0,33%; thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 0,31%.

- Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,04%, trong đó, giá thiết bị âm thanh tăng 0,81%; máy điện thoại di động thông thường tăng 0,41%; máy vi tính và phụ kiện tăng 0,37%; dịch vụ sửa chữa điện thoại tăng 0,26%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 0,19%; dịch vụ truyền hình và internet tăng 0,03%. Ở chiều ngược lại, giá phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,18%.

- Nhóm giáo dục tăng 0,03%, chủ yếu do giá bút viết các loại tăng 0,40%; văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,36%; sản phẩm từ giấy tăng 0,17%.

(2) Riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,14% (tác động làm CPI chung giảm 0,05 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực giảm 0,68%; thực phẩm giảm 0,25% (tác động giảm 0,06 điểm phần trăm); riêng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,36%.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,64% (tác động làm CPI chung tăng 1,51 điểm phần trăm); giao thông tăng 5,22% (làm CPI chung tăng 0,52 điểm phần trăm); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,77% (tác động làm CPI chung tăng 1,71 điểm phần trăm); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,96%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,38% (làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm); giáo dục tăng 3,28% (làm CPI chung tăng 0,20 điểm phần trăm); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,53% (làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,22% (tác động làm CPI chung tăng 0,07 điểm phần trăm); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,91% (tác động làm CPI chung tăng 0,07 điểm phần trăm); thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,99%; riêng thông tin và truyền thông giảm 0,06%.

Lạm phát cơ bản tháng Năm tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,31% của CPI bình quân chung do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 27/5/2026, bình quân tháng Năm, giá vàng thế giới ở mức 4.619,18 USD/ounce, giảm 2,40% so với tháng Tư. Trong tháng Năm, giá vàng thế giới giảm do hoạt động chốt lời sau thời gian tăng mạnh trước đó và tâm lý thị trường ổn định hơn, làm giảm nhu cầu nắm giữ tài sản trú ẩn an toàn. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng Năm giảm 4,11% so với tháng trước, chủ yếu do giá vàng được các doanh nghiệp kinh doanh điều chỉnh giảm theo giá vàng thế giới. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá vàng tăng 33,87%; so với tháng 12/2025 tăng 6,27%; bình quân năm tháng đầu năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 65,97%.

Giá đô la Mỹ trong nước biến động cùng chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 27/5/2026, chỉ số USD trên thị trường quốc tế bình quân tháng Năm đạt mức 98,62 điểm, giảm nhẹ 0,01 điểm so với tháng Tư do thị trường kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) có thể giảm lãi suất trong thời gian tới. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 26.375 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Năm tăng 0,02% so với tháng trước do nhu cầu ngoại tệ trong nước tăng; tăng 0,78% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,28% so với tháng 12/2025; bình quân năm tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,99%.

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Hoạt động vận tải tháng Năm tiếp tục sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong nước cũng như khách quốc tế đến Việt Nam, phục vụ sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa. So với cùng kỳ năm trước, vận tải hành khách tháng Năm tăng 17,8% về vận chuyển và tăng 13,9% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 13,8% về vận chuyển và tăng 15,7% về luân chuyển. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 19,0% và luân chuyển tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hàng hóa tăng 13,9% và luân chuyển tăng 12,5%.

Vận tải hành khách tháng Năm ước đạt 598,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 1,4% so với tháng trước và luân chuyển 28,5 tỷ lượt khách.km, tăng 1,5%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 2.781,7 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 19,0% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 141,4 tỷ lượt khách.km, tăng 12,7%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 2.772,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước và 113,4 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 13,6%; vận tải ngoài nước ước đạt 8,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 9,6% và 28,0 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 9,2%.

Biểu 6. Vận tải hành khách năm tháng đầu năm 2026 phân theo ngành vận tải

Số lượt hành khách

Tốc độ tăng/giảm so vớicùng kỳ năm trước (%)

Vận chuyển(Triệu HK)

Luân chuyển(Tỷ HK.km)

Vận chuyển

Luân chuyển

Tổng số

2.781,7

141,4

19,0

12,7

Đường sắt

20,2

1,4

16,2

2,6

Đường biển

4,9

0,4

-9,8

16,9

Đường thủy nội địa

194,7

4,3

6,3

23,2

Đường bộ

2.537,3

94,6

20,4

16,3

Hàng không

24,6

40,7

5,9

4,5

Vận tải hàng hóa tháng Năm ước đạt 275,8 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,6% so với tháng trước và luân chuyển 58,5 tỷ tấn.km, tăng 4,1%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.355,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 269,6 tỷ tấn.km, tăng 12,5%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 1.331,1 triệu tấn vận chuyển, tăng 13,8% và 156,8 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 14,6%; vận tải ngoài nước ước đạt 24,8 triệu tấn vận chuyển, tăng 16,3% và 112,8 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 9,8%.

Biểu 7. Vận tải hàng hóa năm tháng đầu năm 2026 phân theo ngành vận tải

Sản lượng hàng hóa

Tốc độ tăng/giảm so vớicùng kỳ năm trước (%)

Vận chuyển(Triệu tấn)

Luân chuyển(Tỷ tấn.km)

Vận chuyển

Luân chuyển

Tổng số

1.355,9

269,6

13,9

12,5

Đường sắt

1,9

1,6

-12,7

0,1

Đường biển

70,3

141,6

14,4

9,4

Đường thủy nội địa

281,1

60,9

12,3

18,0

Đường bộ

1.002,4

61,4

14,3

15,9

Hàng không

0,2

4,1

1,1

2,8

đ) Khách quốc tế đến Việt Nam

Môi trường chính trị - xã hội ổn định, an toàn; chính sách thị thực ngày càng thông thoáng; hoạt động xúc tiến, quảng bá được chuyên nghiệp hóa, cùng với hệ thống sản phẩm đa dạng, phù hợp xu hướng và chất lượng dịch vụ không ngừng được cải thiện, tạo nền tảng quan trọng để thu hút khách quốc tế đến Việt Nam.

Trong tháng Năm, khách quốc tế đến nước ta ước đạt 1,78 triệu lượt người, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 10,6 triệu lượt người, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất của năm tháng đầu các năm từ trước đến nay. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 8,7 triệu lượt người, chiếm 82,3% lượng khách quốc tế đến và tăng 11,0% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 1,7 triệu lượt người, chiếm 15,8% và tăng 40,8%; bằng đường biển đạt 202,4 nghìn lượt người, chiếm 1,9% và tăng 15,4%.

Hình 16. Khách quốc tế đến Việt Nam năm tháng đầu năm 2026 phân theo vùng lãnh thổ

7. Một số tình hình xã hội

a) Đời sống dân cư

Theo kết quả sơ bộ Điều tra lao động việc làm, tình hình đời sống dân cư vẫn duy trì ổn định. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với tháng cùng kỳ năm trước là 96,5% (tăng 0,5 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo tháng Tư và giảm 0,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 3,5%.

Trong các hộ đánh giá có thu nhập tăng, có 64,1% hộ đánh giá do tăng thu từ tiền lương, tiền công của thành viên hộ; 41,3% hộ nhận định do tăng thu từ hoạt động nông, lâm nghiệp, thủy sản; 21,5% hộ đánh giá do tăng thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông, lâm nghiệp, thủy sản.

Trong các hộ đánh giá thu nhập giảm, có 34,9% hộ đánh giá do chi phí đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ tăng; 27,3% hộ đánh giá do giá bán các sản phẩm từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ giảm; 21,0% hộ đánh giá do thành viên hộ bị ốm, bệnh/chấn thương nặng/tử vong; 19,6% hộ đánh giá do quy mô các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ giảm và 17,6% hộ đánh giá do có thành viên tạm nghỉ việc.

Về tác động của các sự kiện tiêu cực đến đời sống trong năm tháng đầu năm 2026, các hộ gia đình đánh giá: 35,3% hộ đang phải chịu những ảnh hưởng do giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao; 7,7% hộ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thiên tai, biến đổi khí hậu; 3,9% hộ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với vật nuôi, cây trồng; 2,9% hộ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với con người; 2,2% hộ chịu ảnh hưởng do thành viên hộ bị ốm, bệnh/chấn thương nặng/tử vong và 0,5% hộ chịu ảnh hưởng của hỏa hoạn, cháy nổ.

Trong tháng Năm, có 18,6% hộ gia đình được phỏng vấn nhận được trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau. Cụ thể, tỷ lệ hộ nhận được trợ giúp từ các chương trình, chính sách chung của quốc gia là 9,3%; từ các chương trình, chính sách của địa phương là 7,3%; từ họ hàng, người thân là 10,1%; từ các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân khác là 2,5% và từ các nguồn khác là 0,08%.

Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhằm mục đích hỗ trợ đời sống Nhân dân. Trong tháng Năm, tính đến ngày 25/5/2026, Chính phủ đã hỗ trợ hơn 1,0 nghìn tấn gạo cho người dân kỳ giáp hạt năm 2026. Tính từ đầu năm nay, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân 16,3 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 6,6 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 442,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 604,0 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 40,3 nghìn nhân khẩu.

b) Tri ân người có công

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027), Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ được triển khai từ ngày 15/3/2026 đến ngày 27/7/2027.

Ngay sau khi chiến dịch được phát động (ngày 02/4/2026), dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Chỉ đạo quốc gia, các ban, bộ, ngành, ban chỉ đạo các cấp, cơ quan, đơn vị, địa phương đã chủ động, tích cực vào cuộc, tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đề ra và đạt được những kết quả bước đầu tích cực, trong đó đã ban hành Nghị quyết của Chính phủ về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong tổ chức lấy mẫu, giám định và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin bằng phương pháp giám định ADN; tập huấn, hướng dẫn, ban hành các quy trình kỹ thuật, số hóa thông tin mẫu hài cốt liệt sĩ. Đồng thời xây dựng phương án tiếp nhận, xử lý, khai thác các nguồn thông tin; tổ chức thí điểm công tác lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các mộ chưa xác định được thông tin…

Đến nay, các đội tìm kiếm, quy tập đã tìm kiếm, quy tập được 974 hài cốt liệt sĩ, trong đó tại Lào là 182 hài cốt, tại Cam-pu-chia là 550 hài cốt và trong nước là 242 hài cốt.

c) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (từ ngày 18/4-17/5/2026), cả nước có 5.407 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 10,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (01 trường hợp tử vong); 668 trường hợp sốt phát ban nghi sởi; 25 trường hợp viêm não vi rút (không có trường hợp tử vong); 04 trường hợp viêm màng não do não mô cầu; 08 người chết do bệnh dại. Tính chung từ đầu năm đến nay, cả nước có hơn 50,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (05 trường hợp tử vong); 44,9 nghìn người mắc tay chân miệng (09 trường hợp tử vong); 3.795 trường hợp sốt phát ban nghi sởi (không có trường hợp tử vong); 131 trường hợp viêm não vi rút (01 trường hợp tử vong); 30 trường hợp viêm màng não do não mô cầu (04 trường hợp tử vong) và 32 người tử vong do bệnh dại.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/5/2026 là 256,6 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS là 118,5 nghìn người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Năm xảy ra 09 vụ với 555 người bị ngộ độc (02 người tử vong). Tính chung năm tháng đầu năm 2026 (từ ngày 18/12/2025-17/5/2026), cả nước xảy ra 36 vụ với 1.404 người bị ngộ độc (05 người tử vong).

d) Hoạt động văn hóa, thể thao

Về văn hóa, trong tháng Năm, các hoạt động văn hóa diễn ra sôi nổi trên phạm vi cả nước như: Lễ hội Làng Sen năm 2026 được tổ chức tại Nghệ An vào ngày 19/5; Tuần Du lịch Ninh Bình 2026 diễn ra tại Ninh Bình vào 10 ngày cuối tháng 5 với chủ đề “Ninh Bình - Hành trình Di sản qua các thời đại”; Lễ hội Hoa Phượng Đỏ - Hải Phòng 2026 diễn ra tại Hải Phòng vào ngày 08/5 với chủ đề “Hải Phòng - Hội tụ - Tỏa sáng”; chương trình lễ kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ với các các chương trình tri ân, dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia A1, thăm các di tích lịch sử và đón tiếp đông đảo du khách, cựu chiến binh trở lại thăm chiến trường xưa,…

Về thể thao thành tích cao, trong tháng Năm, các hoạt động thể thao diễn ra sôi nổi và đạt được một số thành tích như: Đội tuyển bóng đá U17 Việt Nam giành vé tham dự FIFA U17 World Cup Qatar 2026 diễn ra tại Qatartừ ngày 19/11-13/12; đội tuyển Judo Việt Nam giành ngôi Nhất toàn đoàn tại Giải vô địch Judo Đông Nam Á 2026 diễn ra tại Bắc Ninh từ ngày 19-24/5; đội tuyển Taekwondo giành suất tham dự Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD 20) tổ chức tại Nhật Bản từ ngày 19/9-04/10; giải vô địch cử tạ các Câu lạc bộ quốc gia 2026 diến ra tại Ninh Bình từ ngày 16-24/5; Giải Bơi - Lặn vô địch các nhóm tuổi quốc gia 2026 diễn ra tại Đồng Tháp từ ngày 20-30/5; giải vô địch Quốc gia môn Bóng chuyền bãi biển 2x2 diễn ra tại Đà Nẵng từ ngày 01-09/5,…

Về thể thao quần chúng, trong tháng Năm, phong trào thể thao quần chúng bùng nổ mạnh mẽ trên khắp cả nước, tạo nên một bầu không khí rèn luyện thể chất sôi động từ học đường đến các giải đấu bán chuyên. Điểm nhấn trong tháng là lễ khởi tranh Giải Bóng đá 7 người Vô địch Quốc gia diễn ra từ tháng Năm đến tháng tháng Bảy. Bên cạnh các môn truyền thống như cầu lông, cờ tướng hay bóng chuyền hơi, môn thể thao xu hướng Pickleball đã chính thức được nhiều địa phương đưa vào nội dung thi đấu phong trào chính thức trong các kế hoạch thể thao hè. Đặc biệt, nhân kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5) và hướng tới Tháng hành động vì trẻ em, nhiều địa phương đã tổ chức các giải thể thao học sinh phổ thông cấp tỉnh đồng thời phát động chiến dịch toàn dân học bơi, phòng chống đuối nước cho trẻ em. Ngoài ra, các sân chơi mang ý nghĩa nhân văn lớn như Giải Vô địch quốc gia các môn Điền kinh, Cử tạ người khuyết tật, hay các giải đấu võ thuật bán chuyên Lion Championship đã tạo cơ hội tỏa sáng cho mọi người lan tỏa tinh thần "Khỏe để lập nghiệp và giữ nước" trên toàn quốc.

đ) Tai nạn giao thông

Trong tháng Năm (từ 15/4-14/5/2026), cả nước xảy ra 1.204 vụ tai nạn giao thông, làm chết 787 người và bị thương 644 người. So với tháng Tư, số vụ tai nạn giao thông tăng 0,4%; số người chết tăng 4,4%; số người bị thương giảm 5,6%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giao thông giảm 22,9%; số người chết giảm 11,7%; số người bị thương giảm 39,8%.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 6.482 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4.046 người và bị thương 3.762 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 18,1%; số người chết giảm 8,6%; số người bị thương giảm 28,9%. Bình quân một ngày trong năm tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 43 vụ tai nạn giao thông, làm chết 27 người, bị thương 25 người.

e) Thiệt hại do thiên tai

Thiệt hại do thiên tai trong tháng Năm chủ yếu do ảnh hưởng của mưa lốc, giông sét làm 12 người chết và mất tích, 24 người bị thương; hơn 24,7 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng; 2.346 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hại; tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 342,4 tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm nay, thiên tai làm 18 người chết và mất tích, 47 người bị thương; 35,1 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 6.115 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 924,1 tỷ đồng, gấp gần 2,2 lần cùng kỳ năm 2025.

g) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng Năm (từ 26/4-23/5/2026), các cơ quan chức năng phát hiện 1.154 vụ vi phạm môi trường tại 29/34 địa phương, trong đó xử lý 895 vụ với tổng số tiền phạt gần 20,1 tỷ đồng, giảm 4,9% so với tháng trước và tăng 23,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, các cơ quan chức năng phát hiện 7.597 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 6.528 vụ với tổng số tiền phạt 128,9 tỷ đồng, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng (từ 15/4-14/5/2026), cả nước xảy ra 239 vụ cháy, nổ, làm 9 người chết và 12 người bị thương, thiệt hại ước tính 67,2 tỷ đồng, tăng 55,8% so với tháng trước và gấp gần 2,9 lần cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.245 vụ cháy, nổ, làm 50 người chết và 61 người bị thương, thiệt hại ước tính 347,9 tỷ đồng, tăng 41,5% so với cùng kỳ năm trước./.

Nơi nhận:

- Tổng Bí thư;

- Chủ tịch nước;

- Chủ tịch Quốc hội;

- Thủ tướng Chính phủ;

- Các Phó Thủ tướng Chính phủ;

- Lãnh đạo Bộ Tài chính;

- Các cơ quan thuộc Trung ương Đảng;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Các cơ quan thuộc Quốc hội;

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,

cơ quan thuộc Chính phủ;

- Toà án Nhân dân tối cao;

- Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao;

- Các đoàn thể Trung ương;

- Các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;

- Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp VN;

- Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính;

- Cơ quan Thông tấn, báo chí;

- Các đơn vị thuộc CTK;

- Lưu: VT, THĐN.

CỤC TRƯỞNG

Nguyễn Thị Hương